Sự khác nhau giữa CTS 5000, Apogee 3300 & Apogee 3500

alt alt

Dưới đây là sự khác nhau về thông số kỹ thuật giữa ba máy: CTS 5000, Apogee 3300 và Apogee 3500 Touch:

Hệ thống

CTS 5000

Apogee 3300

Apogee 3500 Touch

Màn hình

LCD 15”

LCD 17” + Touch Screen 8.4”

LCD 17” + Touch Screen 8.4”

Số cổng cắm đầu dò

3 cổng cắm đầu dò

3 cổng đầu dò, 1 cổng chờ

4 cổng hoạt động

Cân nặng

75 Kg

63 Kg

70 Kg

Chế độ quét

B, 2B, 4B, M, B/M, Zoom B, Picture in Picture,

B, 2B, 4B, M, B/M, PW, B+CFM,  B+CPA, B+DPA, B+PW,  B+CFM+PW, B+CPA+PW, Ảnh hình thang, hình quạt

 

B, 2B, 4B, M, B/M, PW, B+CFM,  B+CPA, B+DPA, B+PW,  B+CFM+PW, B+CPA+PW, Ảnh hình thang, hình quạt, Ảnh kết hợp

 

Ảnh kết hợp

Không

Lựa chọn

Cấu hình chuẩn

Cổng kết nối USB

2

2

4

Ổ cứng

250 G

350 G

350 G

Như vậy ta thấy sự khác nhau nhiều giữa hai dòng máy CTS 5000 với dòng máy Apogee: dòng máy Apogee cao cấp và mạnh mẽ hơn so với dòng máy CTS 5000 và sự khác biệt không đáng kể giữa hai dòng máy Apogee 3300 và Apogee 3500 Touch. Tuy nhiên về giá thành thì máy siêu âm Apogee 3500 Touch có giá thành cao hơn máy Apogee 3300 là 3000USD. Vì vậy khách hàng cần lưu ý khi lựa chọn mua ba dòng sản phẩm trên.

Để biết thêm thông tin chi tiết, xin Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi!


 
 

So sánh x-quang thường, x-quang số CR & DR

X quang kỹ thuật số là sự phát triển hiện đại của X quang cổ điển ở thời đại tin học ngày nay. Chúng tôi xin điểm qua các phương cách số-hóa hình X quang và đi sâu vào 2 kỹ thuật vừa được du nhập vào Việt Nam là X quang điện toán (computed radiography-CR) sử dụng tấm tạo ảnh phosphor và X quang trực tiếp (Direct radiography-DR) dùng bảng cảm ứng (sensor panel). Chúng tôi so sánh các điểm mạnh yếu giữa hình X quang cổ điển và X quang xử lý số, và so sánh giữa kỹ thuật X quang điện toán và X quang trực tiếp. Từ đó xác định ưu điểm hiển nhiên của X quang xử lý số về chất lượng hình ảnh, lưu trữ, truy tìm, và khả năng thực hiện X quang viễn thông (Teleradiology). 

Thật sự X quang kỹ thuật số đã có trước từ khoảng 20 năm rồi, và được gọi là kỹ thuật X quang điện toánCR (Computed radiography). Một thời gian sau, xuất hiện hệ thống Bầu tăng quang/máy ảnh CCD (II/CCD camera) thường được chụp mạch máu xóa nền và một số thủ thuật X quang can thiệp khác. Đến khoảng cuối thập niên 90, mới xuất hiện kỹ thuật X quang trực tiếp DR (Direct radiography), cho hình X quang kỹ thuật số không cần qua máy Laser scan như CR hoặc CCD camera.

X quang kỹ thuật số là từ riêng dùng để nói đến hình X quang qui ước kỹ thuật số để phân biệt với các hình Siêu âm, Cắt Lớp Điện Toán và Cộng Hưởng Từ cũng là những hình kỹ thuật số được tạo do máy điện toán.

1. X quang qui ước cổ điển dùng hệ thống phim/bìa tăng quang để chụp các bộ phận của cơ thể . Phim sau khi được phô xạ, sẽ được đưa vào phòng tối để xử lý bằng hóa chất hiện hình và định hình.Sau đó sẽ được đọc trên 1 hộp đèn xem phim. Đây là một hình vĩnh viễn, không sửa đổi được, khó lưu trữ, sao lục và truy tìm.

2. Hệ thống X quang điện toán (Computed Radiography):

Đây là hệ thống gần giống X quang cổ điển: máy phát tia X quang bình thường và phim/bìa tăng quang được thay bằng tấm tạo ảnh (Imaging plate) có tráng lớp Phosphor lưu trữ (storage) và kích thích phát sáng (photostimulable luminescence). Tấm tạo ảnh khi được tia X  chiếu lên sẽ tạo nên 1 tiềm ảnh (latent image), sau đó tấm tạo ảnh này sẽ phát quang lần 2 khi quét bởi 1 tia laser trong máy Kỹ thuật số hóa (digitizer), ánh sáng này được bắt lấy (capture) và cho ra hình kỹ thuật số tức là có sự chuyễn đổi từ hình analog ra digital. Hình này sẽ được chuyển qua máy điện toán chủ để được xử lý. Tấm tạo ảnh sẽ được xóa bởi nguồn ánh sáng trắng và tái sử dụng.

3. Hệ thống X quang trực tiếp (Direct Radiography). Kỹ thuật này giống máy chụp ảnh kỹ thuật số, vì cũng dùng nguyên tắc tương tự là bảng cảm ứng và cho hình ngay sau khi chụp. Nguyên tắc tạo ảnh la nhờ Bảng cảm ứng (Sensor panel) cấu tạo do sự kết hợp của lớp nhấp nháy (Scintillator) gồm các lớp cesiumiodide/thallium và tấm phim mỏng transistor (TFT) với silicon vô định hình (amorphous silicon). Bảng cảm ứng này thay thế cặp phim/bìa tăng quang cổ điển, sau khi được phô xạ, sẽ chuyển hình và hiển thị trên màn hình máy điện toán sau 5 giây. Và có thể chụp tiếp ngay không cần xóa.


SO SÁNH X QUANG KỸ THUẬT SỐ & X QUANG CỔ ĐIỂN

·        Phim X quang cổ điển đã được sử dụng hơn 100 năm, do đó đã tạo thành 1 phản xạ có điều kiện cho các BS, muốn đọc phim X quang là phải có tấm phim lớn và hộp đèn xem phim. Ngoài vấn đề phim rất nhạy với ánh sáng, qui định phòng tối ngặt nghèo, chất lượng phim tùy thuộc nhiều vào các yếu tố phô xạ mà chỉ xơ xẩy sẽ làm cho phim đen hoặc trắng quá, lại còn phụ thuộc rất nhiều vào nồng độ, nhiệt độ các hóa chất trong khi làm hiện hình và định hình, khó khăn để lưu trữ và sao chép phim. Phim X quang qui ước là một hình cố định, ta không thể cải thiện chất lượng hình sau khi đã phô xạ, nên phải chụp lại nếu chất lượng kém vừa hao tiền lại tăng độ nhiễm xạ của bệnh nhân.

·        X quang kỹ thuật số có thể xem trực tiếp trên màn hình monitor và chỉnh sửa, phóng to vùng cần quan sát v.v…

·       Tấm tạo ảnh phosphor lưu trữ (Phosphor storage plate) và Bảng Cảm ứng (Sensor Panel)  có khả năng chụp lại nhiều lần, có dãi phô xạ rộng hơn phim X quang qui ước, nên không sợ hư phim do tia quá yếu hoặc quá mạnh. Hầu như không có trường hợp phải chụp lại.

·       Hình X quang điện toán nhờ có các phần mềm chuyên dùng xử lý nên sẽ cho các hình ảnh chất lượng cao hơn hẳn phim X quang cổ điển: như khả năng có thể khảo sát xương và phần mềm hoặc khảo sát nhu mô phổi và trung thất cùng trên một phim.

·      Việc lưu trữ các hình ảnh trở nên dễ dàng trong các đĩa CD-ROM và việc truy lục, sao chép nhanh chóng hơn.

·       In bằng máy in khô (Dry Imager) chỉ sử dụng đầu nhiệt nên không còn các hóa chất và phòng tối, vì phim khô không bị ánh sáng ảnh hưởng.

·       Khả năng X Quang viễn thông (Teleradiology) nhờ có thể chuyển hình ảnh qua mạng Internet.

·      Điểm yếu của X quang kỹ thuật số là máy móc, phim khô đắt tiền hơn so với hệ thống X quang cổ điển.

 

SO SÁNH X QUANG ĐIỆN TOÁN (CR) & X QUANG TRỰC TIẾP (DR)

·      DR cho ảnh X quang số trực tiếp (sau 5 giây) nên nhanh hơn CR cho ảnh sau khi được máy Digitizer quét (90 giây).

·        DR bảng cảm ứng chụp liên tục không cần xóa, CR cần phải xóa tấm tạo ảnh gần 30”.

·       DR bảng cảm ứng sử dụng gần như vĩnh viễn, CR có những tấm tạo ảnh có tuổi thọ và có thể bị hao mòn sau một thời gian.

·       DR không cần cassette, có thể ghi tên trực tiếp tên bệnh nhân nhờ máy điện toán chủ, CR cần cassette, và phải có máy ID station để ghi lý lịch bệnh nhân.

·       DR cho ảnh ngay, được sử dụng để làm máy soi X quang kỹ thuật số (Digital fluoroscopy) cho hình tức thì (real-time), CR chỉ cho hình sau khi quét bởi laser.

·    Nhưng DR thường có bảng cảm ứng cố định, chỉ dùng cho 1 máy X quang, CR có nhiều cassettes nên có thể sử dụng cho nhiều phòng.

·        DR hiện đại hơn CR và đang còn tiếp tục nghiên cứu để đạt mức tối ưu.

·        DR gọn nhẹ hơn CR . Do đó có thể tạo hệ thống X quang số di động với DR.

·       Chi phí cho DR cao hơn CR.

·       Chất lượng hình do DR & CR tương đương.

 

(Nguồn: BS. Nguyễn Văn Công, Trung tâm y khoa Medic Hòa Hảo)

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ:

Hà Nội          : P.401, Toà nhà 15, Ngõ 11 Thái Hà, Đống Đa, HN. Tel: 0973881835

Đà Nẵng       : 358 Ngô Quyền, Q.Sơn Trà, Tp.Đà Nẵng. Tel: 0905777197

Hồ Chí Minh  : 51/5B Giải Phóng, P.4, Q.Tân Bình, HCM. Tel: 0937393633

Cần Thơ       : 9 Đồng Khởi, P.Tân Anh, Q.Ninh Kiều, Tp.Cần Thơ. Tel: 0933435041

Web             : www.sieuamcx.com.vn   www.cxultrasonic.com

Email           : Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.    Hotline: 0976801086

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và hợp tác của Quý khách hàng!

 

 

 

Hướng dẫn sử dụng máy soi nhũ hoa Leo 1201 miễn phí tại CX!

CX triển khai hướng dẫn sử dụng miễn phí máy soi nhũ hoa LEO-1201 tại vp Hà Nội và Đà Nẵng từ ngày 14-17/11/2011 với sự góp mặt của các kỹ sư CX và chuyên gia bên hãng! Kính mời các Quý bác sĩ có nhu cầu, xin mời đăng ký trực tiếp với CX theo số Hotline: 0976801086

Dưới đây là hình ảnh máy soi nhũ hoa Leo 1201 và Leo 1202 cùng một số triệu chứng và hình ảnh thực tế của máy soi nhũ hoa Leo 1201/1202:

alt

                                         Leo 1201

 

alt 

                                        Leo 1202

altaltaltaltaltaltaltaltaltaltalt 

Mọi thông tin xin liên hê:

Hà Nội     :P.401, Tòa nhà 15, Ngõ 11 Thái Hà, Đống Đa, HN. Tel: 0976801086

Đà Nẵng  :358 Ngô Quyền, Q.Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng. Tel: 0905777197

HCM       :Tòa nhà Ripac, 8 Trường Sơn, P.2, Q.Tân Bình. Tel: 0937393633

Cần Thơ : Số 9 Đồng Khới, P.Tân Anh, Q.Ninh Kiều, Cần Thơ. Tel: 01227983339


Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.  

Web  :www.cxultrasonic.com/ www.sieuamcx.com.vn

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và hợp tác của Quý khách hàng!

 

 

 

Đại cương về các phép đo niệu động học

ÐẠI CƯƠNG VỀ CÁC PHÉP ÐO NIỆU ÐỘNG HỌC

 

                                                                                                                      Nguyễn Văn Ân

Bác sĩ CK Niệu, Tiến sĩ Y học - Trưởng phòng Chẩn đoán Niệu động học, BV Bình Dân

I- MỞ ÐẦU

Từ đầu năm 2002, Trung tâm Chẩn đoán Y khoa (Medic) đã triển khai các phép đo Niệu động học. Bệnh viện Bình Dân cũng vừa khai trương Phòng Chẩn đoán Niệu động học vào đầu tháng 9/2002. Vậy Niệu động học (NÐH) là gì? Bài viết này nhằm giới thiệu những nét khái quát về các phép đo này.

Nghiên cứu niệu động học (urodynamic studies) là một phần quan trọng trong đánh giá các bệnh nhân bị rối loạn chức năng đường tiểu dưới, bao gồm những đánh giá khách quan về chức năng đường tiểu dưới như chức năng của bọng đái, cơ chế hoạt động của cơ thắt niệu đạo, dạng thức của sự đi tiểu, nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho lâm sàng. Những phép đo này bao gồm việc đo lường về áp lực, dung tích, lưu lượng, thế năng điện-cơ và có thể bao gồm các đánh giá X-quang đối với đưởng tiểu dưới.

Chỉ định: Hầu hết những bệnh nhân bị rối loạn chức năng đường tiểu dưới đều có lợi từ một số phép đo NÐH, tuy nhiên khảo sát NÐH đặc biệt hữu ích cho một số nhóm bệnh như tiểu không kiềm chế, bế tắc dòng ra của bọng đái (outflow obstruction), rối loạn chức năng thứ phát từ bọng đái thần kinh, và một số trẻ em có vấn đề về són tiểu và đi tiểu phức tạp (Webster, 1998)

II - GIỚI THIỆU CÁC PHÉP ÐO CĂN BẢN CỦA NIỆU ÐỘNG HỌC:

2.1. PHÉP ÐO ÁP LỰC BỌNG ÐÁI - cystometry:

Khảo sát sự thay đổi áp lực bên trong bọng đái theo dung tích bọng đái. Áp lực bọng đái được theo dõi lúc bọng đái được đổ đầy thụ động và lúc bọng đái co bóp chủ động. Khi đo người ta ghi nhận cảm giác mắc tiểu, độ dốc của đường biểu diễn trong lúc đổ đầy và sự co bóp của cơ chóp bọng đái.

2.1.1. Cảm giác bọng đái:

Bình thường, cảm giác đầy ở bọng đái xảy ra khi dung tích bọng đái khoảng từ 100 - 300 ml. Sau đó là cảm giác mắc tiểu, thường xảy ra khi dung tích bọng đái khoảng 350 - 400 ml.

Những bất thường về cảm giác mắc tiểu bao gồm giảm hoặc không có cảm giác đổ đầy hoặc cảm giác mắc tiểu. Khó chịu hoặc mắc tiểu gấp khi dung tích còn ít là điển hình của tình trạng viêm chẳng hạn như nhiễm trùng đường tiểu dưới, viêm bọng đái do xạ trị, viêm bọng đái kẽ .

alt

 

2.1.2. Giai đoạn chứa đựng hay đổ đầy:

Do tính chất vật lý đặc biệt của thành bọng đái mà trong giai đoạn chứa đựng, dung tích bọng đái có thể gia tăng rất nhiều nhưng áp lực bên trong bọng đái tăng rất ít. Vì thế, bình thường thì biểu đồ áp lực bọng đái trong giai đoạn này gần như nằm ngang. Người ta dùng khái niệm độ dãn nở bọng đái (compliance) (DV/DP trong giai đoạn chứa đựng) để đánh giá đặc điểm này của bọng đái.

Tăng độ dãn nở bọng đái có thể gặp trong ứ đọng nước tiểu mạn tính đo bất kỳ nguyên nhân nào.

Giảm độ dãn nở bọng đái có thể do nhiều nguyên nhân, bao gồm viêm bọng đái mạn tính, viêm bọng đái do xạ trị, viêm bọng đái kẽ, carcinoma bọng đái .

2.1.3. Giai đoạn co bóp bọng đái:

Co bóp cơ chóp bọng đái thể hiện bởi sự gia tăng áp lực chậm và ổn định trên đường biểu diễn đến 60 - 120 cm H2O. Ở người bình thường, giai đoạn này được báo trước bởi cảm giác mắc tiểu, tuy nhiên nếu muốn thì có thể kềm hãm sự co bóp này.

Tăng hoạt cơ chóp - do nguyên nhân thần kinh hoặc không - biểu hiện bởi dung tích bọng đái thể hiện trên áp lực đồ dưới 200 ml và điều quan trọng hơn là không có khả năng ức chế sự co bóp cơ chóp. Người ta thường dùng từ tăng phản xạ cơ chóp (detrusor hyperreflexia) cho những trường hợp do nguyên nhân thần kinh, và từ bất ổn định cơ chóp (detrusor instability) để chỉnhững trường hợp không do nguyên nhân thần kinh hay không rõ nguyên nhân.

Không co bóp cơ chóp - không thấy sự co bóp cơ chóp khi đo áp lực bọng đái. Lưu ý rằng do sự ức chế tâm lý trong lúc đo mà khoảng 10% đàn ông và 50% phụ nữ vốn đi tiểu bình thường lại không thể biểu hiện co bóp cơ chóp trên áp lực đồ bọng đái. Người ta dùng từ bất phản xạ cơ chóp (detrusor areflexia) cho những trường hợp do nguyên nhân thần kinh, còn không co bóp cơ chóp (detrusor acontractile) cho những trường hợp khác.

Suy yếu co bóp cơ chóp - biểu hiện bởi những co bóp yếu và ngắn, thường gặp ở người già thuộc cả hai phái, có lẽ do sự thay thế cơ trơn bọng đái bằng thành phần collagen.

2.2. PHÉP ÐO NIỆU DÒNG - uroflowmetry:

Ðây là phép đo duy nhất không xâm nhập (noninvasive) trong các phép đo NÐH. Cách đo lại rất khá đơn giản: chỉ cần bệnh nhân đi tiểu một lượng nước tiểu thích hợp vào phễu hứng của máy đo vốn được gắn kết với một máy biến năng, rồi trọng lượng của nước tiểu sẽ được chuyển thành dung tích và ghi lại thành biểu đồ với tốc độ ml/giây. Phép đo niệu dòng là thông dụng nhất trong các phép đo NÐH, có thể dùng như là một xét nghiệm tầm soát về chức năng đường tiểu dưới, nhanh chóng và rẻ tiền.

alt 

Tốc độ dòng tiểu là kết quả sau cùng của hoạt động đi tiểu, do đó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như sự co bóp cơ chóp bọng đái, sự dãn lỏng của cơ thắt niệu đạo và sự thông suốt của niệu đạo. Do bị tác động bởi nhiều biến số như thế nên một số tác giả khuyên rằng không nên dùng phép đo niệu dòng như là một xét nghiệm chẩn đoán. Tuy nhiên nếu phối hợp niệu dòng đồ với việc đo lượng tiểu tồn lưu, ta có thể ước đoán về tính hiệu quả của hoạt động đi tiểu.

Hình dạng của niệu dòng đồ có thể cung cấp những thông tin hữu ích, chẳng hạn đường biểu diễn không không đều đặn có thể do sức rặn của bụng hoặc bất đồng vận bọng đái-cơ thắt.

Ðiều quan trọng nhất khi đánh giá tốc độ dòng tiểu bình thường là xác định dung tích đi tiểu. Ða số các tác giả khuyên nên có một lượng tiểu trên 150 ml thì xét nghiệm mới có giá trị, tốt nhất là trong khoảng 200 - 400 ml.

Siroky và Krane đưa ra các trị số bình thường của tốc độ dòng tiểu tối đa - Q max (dòng đỉnh) tùy theo tuổi và phái:

Bảng 1 - Các giá trị Q max bình thường đối với lượng tiểu trên 150 ml.

Nhóm bệnh nhân

Tuổi

Q max bình thường (ml/gy)

Nam

< 40

40 - 60

> 60

> 22

> 18

> 13

Nữ

< 50

> 50

> 25

> 18

Trẻ em, thiếu niên

< 10

10 - 20

> 15

> 20

Thực ra, chỉ riêng phép đo niệu dòng thì không đủ để cung cấp thông tin chính xác về dạng thức của rối loạn đi tiểu. Nhiều khi ta không thấy sự khác biệt của niệu dòng đồ giữa bế tắc dòng ra và suy co bóp cơ chóp. Tuy nhiên theo nghiên cứu của Abrams và Griffiths (1979) trên các bệnh nhân nam: khi Q max < 10 ml/s thì 88% được chứng minh là có bế tắc dòng ra.

2.3. PHÉP ÐO ÐIỆN CƠ  CỦA CƠ VÂN ÐÁY CHẬU - electromyography:

Người ta dán các bản điện cực lên vùng tầng sinh môn hoặc cắm những điện cực vào nhóm cơ vùng đáy chậu để ghi nhận khả năng hoạt động của cơ thắt vân niệu đạo. Riêng điện cơ đồ có thể cho những thông tin hữu ích về hoạt động cơ thắt trơn, nhưng nếu phối hợp đồng thời với phép đo áp lực bọng đái thì sẽ rất có giá trị.

 

alt

Ở người bình thường, điện cơ đồ cho thấy không có tình trạng mất kiểm soát thần kinh, phản xạ thiêng bình thường, và bệnh nhân có thể tư co thắt các cơ vùng tầng sinh môn theo ý muốn. Trong giai đoạn đổ đầy của bọng đái, áp lực trong bọng đái sẽ tăng dần lên, và người ta cũng ghi nhận sự tăng dần của hoạt động điện-cơ của cơ thắt vân niệu đạo nhằm tránh xảy ra sự són tiểu trong pha chứa đựng. Trong giai đoạn tống thoát, cơ chóp bọng đái co bóp, đồng thời có sự giảm đi và rồi ngưng hẳn hoạt động điện-cơ của cơ thắt vân niệu đạo trong suốt quá trình đi tiểu.

Nếu trong lúc cơ chóp bọng đái đang co bóp mà các cơ vùng tầng sinh môn không dãn ra thì gọi là bất đồng vận bọng đái-cơ thắt (vesicosphinter dyssynergia). Phép đo điện cơ là phương tiện tốt nhất để xác định tình trạng này.

2.4. PHÉP ÐO ÁP LỰC NIỆU ÐẠO (urethral profilometry) :

Phương pháp thường được áp dụng là đo áp lực cắt dọc niệu đạo theo cách của Wickham. Một ống thông nhỏ có lỗ bên sẽ được đưa trước tiên vào bọng đái. Truyền vào bọng đái một lượng nước với dung tích khoảng dung tích chứa đựng tối đa. Khi bắt đầu đo, nước sẽ được truyền qua ống thông với tốc độ 2 ml/s, sau đó rút ống ra từ từ với tốc độ hằng định 0,5 hoặc 1 ml/s. Áp lực của niệu đạo sẽ khác nhau tùy theo vị trí của niệu đạo, và sẽ được ghi nhận lại bằng các giá trị thay đổi trên biểu đồ ghi nhận được khi rút thông niệu đạo.

alt 

Hai trị số cơ bản thường được ghi nhận là áp lực đỉnh của niệu đạo? (maximal urethral pressure) và chiều dài chức năng của niệu đạo (functional urethra length).

Bảng 3 - Brown và Bickham đưa ra các trị số bình thường của áp lực niệu đạo đỉnh và chiều dài chức năng niệu đạo tùy theo phái và tuổi.

Phái

Tuổi

P max

L chức năng

Nam

< 50

> 50

65 - 105

65 - 105

3,5 - 4,5

4,0 - 5,5

Nữ

< 50

> 50

60 - 90

50 - 80

2,0 - 3,5

2,0 - 3,5

III - PHỐI HỢP CÁC PHÉP ÐO NIỆU ÐỘNG HỌC:

Trên đây chúng tôi đã giới thiệu từng phép đo NÐH cơ bản. Hiện nay, với sự trợ giúp của những dụng cụ tối tân hơn, người ta có thể phối hợp những phép đo trên hoặc phối hợp giữa NÐH với kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh nhằm giúp cho các nhà Niệu khoa có thể có được những nhận định tinh tế và toàn diện hơn về chức năng của đường tiểu dưới.

3.1. ÐO ÁP LỰC CƠ CHÓP BỌNG ÐÁI: Phép đo áp lực bọng đái cổ điển chỉ cho phép đánh giá áp lực bên trong bọng đái (P ves). Áp lực này bị ảnh hưởng bởi áp lực ổ bụng (P abd), chẳng hạn trên một bọng đái bị liệt nhũn (flaccid), nếu bệnh nhân rặn mạnh với sự trợ giúp của các cơ bụng hoặc cơ hoành thì ta sẽ ghi nhận sự gia tăng áp lực trên biểu đồ áp lực bọng đái, mặc dù không hề có sự co bóp bọng đái. Ðể khắc phục tình trạng này, người ta đặt một ống thông trong lòng trực tràng để ghi nhận áp lực ổ bụng trong cùng thời gian đo áp lực bọng đái. Máy đo sẽ tự động tính toán áp lực của cơ chóp bọng đái theo công thức:

P det = P ves - P abd

Kết quả đo sẽ ghi nhận cùng lúc đường biểu diễn của 3 biểu đồ áp lực, trong đó áp lực cơ chóp sẽ thể hiện trung thực tình trạng co bóp của bọng đái.

alt 

3.2. PHỐI HỢP CÁC PHÉP ÐO ÁP LỰC BỌNG ÐÁI, NIỆU DÒNG VÀ ÐIỆN CƠ

Ở mục 1.3, chúng ta đã thấy sự kết hợp giữa áp lực đồ bọng đái và điện cơ đồ. Nếu phối hợp thêm với niệu dòng đồ và thực hiện các phép đo trong cả thời gian đổ đầy lẫn thời gian rặn tiểu sẽ cho phép đánh gía một cách toàn diện về phương diện động học cả chức băng chứa đựng lẫn chức năng tống thoát của đường tiểu dưới.

alt

3.3. PHỐI HỢP PHÉP ÐO ÁP LỰC BỌNG ÐÁI VÀ QUAN SÁT BỌNG ÐÁI CẢN QUANG DƯỚI MÀN HUỲNH QUANG NHẰM ÐÁNH GIÁ ÁP LỰC LÚC SÓN TIỂU (leak point pressure):

Ðo áp lực lúc són tiểu là một phép đo có giá trị nhằm đánh giá có hay không tình trạng suy cơ thắt niệu đạo. Ðiều này được thực hiện bằng cách bơm từ từ vào bọng đái dung dịch có pha thuốc cản quang cho đến khoảng 200 ml. Phép đo áp lực bọng đái cũng được tiến hành đồng thời. Sau đó cho bệnh nhân ho hoặc dùng thủ thuật Valsava nhằm làm tăng áp lực bọng đái, rồi ghi nhận áp lực thấp nhất có thể gây ra són tiểu. Nếu áp lực són tiểu < 60 cm H2O thì có thể xem là niệu đạo bất toàn. Thực ra trong phép đo này, ta có thể xem trực tiếp sự són tiểu qua miệng niệu đạo mà không cần dùng tới thuốc cản quang và màn huỳnh quang. Tuy nhiên nếu quan sát hình ảnh cản quang thì sẽ rõ ràng và chính xác hơn.

3.4. QUAY PHIM - NIỆU ÐỘNG HỌC (Video-Urodynamics) :

Hình ảnh dưới đây ghi nhận sự phối hợp giữa nhiều phép đo NÐH với phép quay phim dưới màn huỳnh quang. Hình ảnh của các biểu đồ NÐH và hình ảnh video của đường tiểu dưới cùng được ghi nhận trên màn hình trong suốt giai đoạn đổ đầy rồi giai đoạn đi tiểu. Hiện nay, phép đo phối hợp này được xem là toàn diện nhất nhằm đánh giá chức năng của đường tiểu dưới.

alt 

IV - KẾT LUẬN:

Ðứng trước một trường hợp rối loạn chức năng đường tiểu dưới, thầy thuốc mà đặc biệt là một nhà Niệu khoa cần phải biết về nguồn gốc, mức độ, phân loại cũng như vị trí nào trong đường tiểu dưới chịu trách nhiệm cho tình trạng bệnh lý. Các phép đo niệu động học hiển nhiên là những khảo sát hết sức cần thiết nếu muốn có một chẩn đoán đầy đủ về bệnh lý rối loạn đi tiểu.

Ðiều đáng tiếc là trong gần 3 thập niên qua, do thiếu trang thiết bị nên ngành Niệu khoa ở Việt Nam hầu như bỏ trống lĩnh vực này, khiến cho việc chẩn đoán rối loạn chức năng đường tiểu dưới gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay, với sự xuất hiện trở các máy đo niệu động học ở bệnh viện Bình Dân và Trung tâm Chẩn đoán Y khoa Medic, chúng tôi hy vọng sẽ giúp các thầy thuốc có được những dữ kiện hữu ích để góp phần điều trị thành công một mặt bệnh rất thường gặp trong Niệu khoa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.  Abrams PH, Griffiths DJ: The assessment of prostatic obstruction from urodynamic measurements and from residual urine. Br J Urol (1979) 51: 129-134

 2. Buzelin JM, Glemain P, Labat JJ, Le Normand L: Les methodes d'exploration fonctionnelle de la voi excretrice inferieure, dans: Physiologie et explorations fontionnelles de la voie excretrice urinaire, edit. par Synthelabo (1993): 60-92.

 3.  Siroky MB, Krane RJ: Neuro-Urology and urodynamic testing, in: Siroky MB, Edelstein RA, Krane RJ, eds. Manual of Urology - Diagnosis and Treatment, 2nd edit., Lippincott Williams & Wilkins (1999): 294-306.

 4. Tanagho EA: Urodynamic studies, in: Tanagho EA, McAninch JK, eds, Smith's general urology, 15th edit (2000): 516-537.

 5.  Wein AJ, Broderick GA: Voiding function and dysfunction, in: Hanno PM, Wein AJ, eds.Clinical Manual of Urology, 2nd edit, McGrow-Hill (1994): 305-376.

 6.  Wein AJ: Neuromuscular dysfunction of lower urinary tract, in: Walsh PC, Retik AB, Vaughan ED, Wein AJ, eds., Campbell's Urology, 7th edit, WB Saunder (1998): 953-1006.

 

 

 

Cách lựa chọn máy siêu âm 3D 4D của SIUI

HƯỚNG DẪN LỰA CHỌN DÒNG MÁY SIÊU ÂM 3D 4D DOPPLER CỦA SIUI

 

Quý khách hàng muốn có ứng dụng:

Siêu âm 4D (4 Chiều, 3D thời gian thực) chuyên cho Sản phụ khoa với đầu dò khối 4D dẫn đầu của SIUI với phần mềm Doppler xung (PW).

Với chi phí mua máy quá thấp, gọn nhẹ, hiệu quả hình ảnh 4D tuyệt vời, dễ sử dụng. Máy siêu âm 4D màu xách tay model: CTS-8800 sẽ đáp ứng vượt mong đợi cho Phòng mạch tư.

alt 

Chi tiết model CTS-8800 với link:  http://cxultrasonic.com/vi/may-sieu-am-4d/90-may-sieu-am-xach-tay-4d-mau-cts-8800.html

Với mức giá cạnh tranh cao hơn một chút. Máy siêu âm 4D bàn đẩy Model: CTS-5000 sẽ là sự lựa chọn tốt nhất cho Phòng Khám đa Khoa chuyên về siêu âm 4D màu. Ứng dụng Doppler Xung, Dopper màu (CFM+ PW) cho Sản phụ khoa và ứng dụng khác. Đây là model cạnh tranh về giá tốt nhất so với các dòng máy siêu âm 4D màu của các hãng Medison, Mindray, Chison, ...

alt 

Chi tiết model: CTS-5000 với link: http://cxultrasonic.com/vi/may-sieu-am-4d/81-may-sieu-am-4d-siui-cts-5000.html

 

Quý khách hàng muốn có ứng dụng:

Siêu âm Doppler màu và hình ảnh siêu âm 3D với chi phí mua máy thấp nhất thì model: Apogee 3300 đáp ứng tốt nhất cho Quý vị.

alt 

Chi tiết truy cập vào link sau đây: http://cxultrasonic.com/vi/may-sieu-am-3d/263-may-sieu-am-3d-doppler-mau-apogee-3300.html

 

Siêu âm 4D màu về sản phụ khoa và Siêu âm Doppler tim mạch (Đầu dò chuyên tim, Phần mềm Doppler xung( PW), Doppler màu ( CFM+PWD), Doppler liên tục ( CW) thì model:Apogee 3500 Touch và model: Apogee 3500 Omni- Có thêm đầu dò mảng pha chuyên tim và phần mềm Doppler liên tục (Cw) sẽ là thiết bị đắc lực đáp ứng một cách hoàn hoản và chính xác với chi phí tốt nhất.

alt 

Chi tiết model: Apogee 3500 Touch và model: Apogee 3500 Omni với 2 link dưới đây:

http://cxultrasonic.com/vi/may-sieu-am-4d/100-may-sieu-am-doppler-mau-apogee-3500-touch.html

http://cxultrasonic.com/vi/may-sieu-am-4d/207-may-sieu-am-apogee-touch-omni.html

 

Siêu âm Doppler màu dạng xách tay: Model Apogee 1100 với kiểu dáng hiện đại và gọn nhẹ. Giá của model này thấp hơn Model: Apogee 3500 Touch.

alt 

Chi tiết sản phẩm với link dưới đây: http://cxultrasonic.com/vi/may-sieu-am-4d/267-may-sieu-am-xach-tay-4d-doppler-ma-apogee-1100.html

 

Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ:

Hà Nội          : P.401, Toà nhà 15, Ngõ 11 Thái Hà, Đống Đa, HN. Tel: 0973881835

Đà Nẵng       : 358 Ngô Quyền, Q.Sơn Trà, Tp.Đà Nẵng. Tel: 0905777197

Hồ Chí Minh  : 51/5B Giải Phóng, P.4, Q.Tân Bình, HCM. Tel: 0937393633

Cần Thơ       : 9 Đồng Khởi, P.Tân Anh, Q.Ninh Kiều, Tp.Cần Thơ. Tel: 0933435041

Web             : www.sieuamcx.com.vn   www.cxultrasonic.com

Email           : Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.    Hotline: 0976801086

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và hợp tác của Quý khách hàng!

 

 

Ung Thư Vú

Ung Thư Vú

1.       Ung Thư Vú là gì?

2.       Các Yếu Tố Gia Tăng Nguy Cơ Mắc Bệnh Ung Thư Vú

3.       Phát Hiện Sớm Bệnh Ung Thư Vú

4.       Chẩn Bệnh Ung Thư Vú

5.       Các Thời Kỳ (Giai Đoạn) của Ung Thư Vú

6.       Trị Bệnh Ung Thư Vú

7.       Kết luận

8.       Truy Tầm Ung Thư Vú Miễn Phí

Bác sĩ Nguyễn Bích Liên đã dựa vào tài liệu của Hội Ung Thư Hoa Kỳ, và kinh nghiệm chuyên khoa về ung thư của mình để viết ra bài viết này.  Phần lớn những tin tức trong bài viết này đã được xuất bản vào năm 2003 bởi Hội Ung Thư Việt Mỹ dưới dạng sách  tựa đề “Tài Liệu Hướng Dẫn Sức Khỏe Về Vú” và trong trang nhà của Hội tại địa chỉ http://www.ungthu.org/.  

Bài viết dưới đây đã được bác sĩ Nguyễn Bích Liên cập nhật hóa vào tháng Năm năm 2006

I. Ung Thư Vú là gì?

Ung thư vú là các tế bào bất thường gọi là tế bào ung thư phát triển từ những tế bào ống (duct) hay những tế bào nang (lobule) của vú.  Nếu không chữa trị sớm, các tế bào ung thư sẽ phát triển nhanh chóng trong vú, đi vào các mạch máu hay mạch bạch huyết, chạy tới các hạch, và có thể lây lan đến các bộ phận khác, gây ra đau đớn, tắc nghẽn cho cơ thể  và cuối cùng mang đến sự chết. Ung thư vú đứng hàng đầu trong những loại ung thư phụ nữ Việt thường mắc phải.
 
Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày một số yếu tố đưa đến sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.  Tuy nhiên, đa số phụ nữ mắc bệnh ung thư vú không có những yếu tố gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Chúng ta cần nhớ là tất cả phụ nữ đều có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.  Điều quan trọng là phát hiện sớm bệnh ung thư vú khi bệnh này còn có thể được chữa lành hoàn toàn. 

top 

II. Các Yếu Tố Gia Tăng Nguy Cơ Mắc Bệnh Ung Thư Vú:

Tuổi tác: Càng lớn tuổi thì nguy cơ ung thư vú càng cao.  Phần lớn phụ nữ da trắng mắc bệnh ung thư vú ở tuổi 50 đến 60.  Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ gốc Việt tại Hoa Kỳ mắc bệnh ung thư vú ở số tuổi trung bình là 40 đến 50, tức là trẻ hơn 10 năm so với phụ nữ da trắng.  Lý do của sự khác biệt này chưa làm sáng tỏ và sẽ là đề tài cho những cuộc nghiên cứu sau này về ảnh hưởng di truyền cũng như môi sinh trên nguy cơ mắc bệnh ung thư của các sắc dân khác nhau.

Tiểu sử bệnh lý gia đình: Những phụ nữ có mẹ, chị, em, hay con gái đã mắc bệnh ung thư vú thì nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Càng có nhiều thân nhân mắc bệnh ung thư vú thì nguy cơ càng gia tăng.

·        hết kinh sau tuổi 55

·        có kinh trước tuổi 12

·        sinh con đầu lòng sau tuổi 30 hay chưa có con.

·         

Dinh dưỡng và rượu:  Ăn thức ăn nhiều mỡ, cũng như rượu có thể làm gia tăng cơ hội mắc bệnh ung thư vú. National Cancer Institute (Viện Ung Thư Hoa Kỳ) khuyến khích phụ nữ nên dùng thức ăn ít mỡ, tập thể dục đều đặn, và chỉ nên dùng rượu có chừng mực.

Sử dụng kích thích tố nữ sau khi tắt kinh trên năm năm:  Những cuộc nghiên cứu mới nhất cho thấy phụ nữ dùng các loại thuốc như Prempro, Provera hay Premarin sau khi tắt kinh có thể làm gia tăng cơ hội mắc bệnh ung thư vú.  Ngoài ra, những loại thuốc này còn có thể gia tăng cơ hội bị tai biến mạch máu não và nghẹt động mạch vành tim gây ra chứng máu nhồi cơ tim. Những loại thuốc này thường được dùng để giúp các bệnh nhân sau khi tắt kinh đỡ bị cáu kỉnh, buồn chán, nóng bừng, khi nóng khi lạnh, và đổ mồ hôi vào ban đêm.  Nếu phụ nữ nào bị những chứng này thì có thể sử dụng những loại thuốc vừa nêu trên trong một thời kỳ ngắn, rồi từ từ ngưng lại khi cơ thể đã quen với sự tắt kinh.  Nếu chỉ dùng thuốc trong thời gian ngắn, thì ta có thể giảm thiểu những triệu chứng trong những ngày tháng đầu của tắt kinh, mà cũng tránh gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.

Yếu tố di truyền ( BRCA - tức là chữ tắt của BReast CAncer gene):  Phần lớn phụ nữ mắc bệnh ung thư vú không có yếu tố di truyền, và bệnh sử gia đình cũng không có ai mắc bất cứ loại ung thư nào cả.  Tuy nhiên, có khoảng 15% phụ nữ mắc bệnh ung thư vú mang những yếu tố di truyền về ung thư gọi là BRCA 1 hay BRCA 2.  Những phụ nữ này có những vấn đề đặc biệt riêng trong việc truy tầm, phòng ngừa, cũng như chữa trị ung thư vú, không nằm trong phạm vi của bài viết này.   Nếu quý vị cần biết rõ hơn về yếu tố di truyền BRCA 1 hay BRCA 2 thì quý vị có thể vào website sau đây của phòng thí nghiệm Myriad: http://www.myriadtests.com/brac.htm để đọc bài viết bằng tiếng Anh.   Nói chung, phần lớn phụ nữ có yếu tố di truyền này có nhiều người trong gia đình mắc bệnh ung thư vú và ung thư buồng trứng. 

top

III. Phát Hiện Sớm Bệnh Ung Thư Vú:

Đây có thể được coi là một việc làm quan trọng nhất cho tất cả phụ nữ đã bước vào tuổi  trưởng thành

BA VIỆC LÀM ĐỂ SỚM PHÁT HIỆN UNG THƯ VÚ

THỨ NHẤT: Tự khám vú bắt đầu ở tuổi 20.  Mỗi tháng, ngay sau khi hết chu kỳ kinh nguyệt, tất cả phụ nữ nên tự khám vú của mình

alt

Mỗi tháng một lần

  • Mỗi tháng một lần
  • Dùng chỗ mềm của đầu các ngón tay trỏ, giữa và áp út để xoa nắn vú. Nên cho ba ngón tay này "bước theo nhau" trên mô vú theo từng hàng thẳng từ trên xuống dưới. Cố gắng khám tất cả các phần của vú, đừng sót phần nào.
  • Nhớ khám dưới nách.    

 

 Xem xét và tìm những bất thường như:

  • Lồi lõm, cục u
  • Da dầy cộm hay có vẩy, nhất là đầu và núm vú.
  • Nước hay máu chảy ra từ đầu vú
  • Những thay đổi khác thường khác.

alt

Hội Ung Thư Việt Mỹ có DVD chỉ dẫn rõ ràng cách tự khám vú do người mẫu, và nói tiếng Việt.  Quý vị có thể liên lạc với Hội để xin DVD miễn phí.

THỨ NHÌ: Khám vú do chuyên viên y tế (CBE hay Clinical Breast Examination):
Quý bà nên yêu cầu bác sĩ hay y tá đã được huấn luyện khám vú cho mình mỗi năm một lần. Nếu khi tự khám vú thấy có gì lạ, quý vị nên yêu cầu bác sĩ khám lại.

THỨ BA: Chụp quang tuyến vú (Mammogram):
Nếu trên 40 tuổi, quý bà nên chụp mammogram mỗi năm một lần, dù không có sự bất bình thường gì khi khám vú.  Phụ nữ có mẹ hay chị em ruột mắc bệnh ung thư vú, hay có yếu tố di truyền như BRCA gene có thể cần truy tầm ung thư vú trước tuổi 40. 

Những phụ nữ có BRCA gene có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú và ung thư buồng trứng rất cao, và có thể phải được truy tầm ung thư vú ở tuổi trẻ hơn, và có thể phải sử dụng cách chụp bằng từ trường tức MRI (Magnetic Resonance Imaging) để việc khám phá ung thư vú được hiệu quả hơn.   Những người này còn có thể nghĩ đến chuyện cắt bỏ cả hai vú và buồng trứng để ngừa hai loại ung thư này hữu hiệu hơn.  Họ cần phải suy nghĩ và thảo luận rất kỹ lưỡng với bác sĩ điều trị hay chuyên viên về di truyền rất kỹ lưỡng trước khi có những quyết định này.

Nếu những phương pháp truy tầm này khám phá ra những thay đổi bất thường của vú, tùy theo trường hợp, các bác sĩ sẽ cho bệnh nhân thực hiện các thử nghiệm khác như siêu âm (ultrsound), MRI, hay sinh thiết (biopsy), v.v… để định bệnh.

Những việc làm nêu trên là lời khuyên cho tất cả phụ nữ thuộc các chủng tộc khác nhau.  Như đã trình bày trên, phụ nữ Việt có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú ở tuổi trẻ hơn.   Tuy nhiên, cho tới nay, chưa có nghiên cứu nào xem xét vấn đề tuổi nào thích hợp nhất để bắt đầu chụp quang tuyến vú mammogram cho phụ nữ gốc Việt.   Chụp mammogram ở tuổi trước 40 có lẽ cũng không được hiệu quả lắm, vì phần lớn phụ nữ ở tuổi này có tế bào vú rất nhiều nang chứa nhiều nước, và khi chụp quang tuyến, sẽ che lấp những tế bào ung thư nếu có.   Do đó, những phụ nữ trẻ tuổi cần theo dõi vú bằng phương pháp tự khám vú cũng như nhờ bác sĩ khám vú cẩn thận hơn. 

top

IV. Chẩn Bệnh Ung Thư Vú:  

Xem xét các bất thường ở vú có phải là ung thư hay không

Nếu việc tự khám vú, khám vú theo tiêu chuẩn y tế hoặc chụp mammogram đã cho thấy bất cứ triệu chứng bất thường nào, một hay nhiều phương cách sau đây có thể được dùng để chẩn bệnh:

·        Aspiration: (Lấy nước hay tế bào để thử nghiệm bằng cách dùng kim nhỏ):

·        Kim nhỏ (fine needle aspiration) được dùng để rút nước hay các tế bào riêng rẽ ra. Nếu chỗ bất thường có dạng u nang tức là bứu nước (cyst), thường chỉ cần dùng kim và ống chích lấy chất lỏng trong nang ra mà không cần cắt (như làm sinh thiết hay trích mô - biopsy). Tuy nhiên, nếu bác sĩ nghi ngờ là có ung thư nhưng khi thử nghiệm bằng kim nhỏ không có kết quả, thường phải sử dụng đến một trong những phương pháp sinh thiết dưới đây.

·        Biopsy (sinh thiết hay trích mô): Mẫu tế bào hay mô được lấy ra từ nơi có sự bất bình thường. Trích mô có thể thực hiện được bằng giải phẫu cắt toàn phần (excisional biopsy) hay một phần (incisional biopsy); hay bằng cách đâm kim vào chỗ bất thường để lấy tế bào ra. Loại trích mô dùng kim lớn (core needle biopsy) sẽ lấy ra một mẫu mô tế bào còn nằm trong cấu trúc của mô. Những mẫu tế bào này sẽ được thử nghiệm bằng kính hiển vi để tìm xem có ung thư hay có những tế bào bất thường không. Cách giải phẫu cắt toàn phần (excisional biopsy) hay một phần (incisional biopsy) và cách dùng kim lớn (core needle biopsy) chính xác hơn là dùng kim nhỏ trong việc chẩn bệnh vì lấy được nhiều tế bào hơn, và các tế bào này còn được nằm trong cấu trúc mô chứ không phải là các tế bào riêng rẽ được hút ra từ kim nhỏ.

·        Stereotactic Biopsy (trích mô với sự hướng dẫn của quang tuyến): Với phương pháp này, các bác sĩ có thể làm trích mô sử dụng kim lớn để lấy mô mẫu thử nghiệm dưới sự hướng dẫn của hình chụp. Chỗ bất thường sẽ được đánh dấu trên hình chụp, và một kim lớn sẽ được đâm vào chính chỗ này để lây tế bào ra.

·        Ultrasound (siêu âm): Những luồng sóng âm thanh được chiếu vào vú và sự vang động của sóng âm thanh sẽ được phân tích: Phương pháp này phân biệt được bướu đặc và bướu nước. Nhiều khi phương pháp này còn có thể tiên đoán được bướu có phải ung thư hay không. Siêu âm cũng dược dùng để hướng dẫn sinh thiết trong nhiều trường hợp. Bác sĩ sẽ định chỗ bướu bằng siêu âm, sau đó kim được đâm vào bướu và bác sĩ có thể nhìn thấy cùng lúc mình đâm kim vào đâu, để việc lấy tế bào được chính xác hơn.

·        MRI (Magnetic Resonance Imaging): Sử dụng những chấn động từ tính để chụp hình ba chiều các bộ phận trong cơ thể: MRI có thể được sử dụng để chụp hình vú nếu cần trong những trường hợp đặc biệt, khi mammogram hay siêu âm không có kết quả, MRI cũng có thể được dùng để truy tầm xem bệnh đã lây lan tới các cơ phận khác hay chưa.

·        CAT Scan hay CT scan (Computerized Tomography): sự khám xét bằng quang tuyến X với sự hỗ trợ của máy điện toán để chụp hình: Cách này cũng có thể chụp hình cơ thể ba chiều được. Cách này không được dùng để truy tầm bệnh ở vú, nhưng rất hữu dụng trong việc truy tầm xem bệnh đã lây lan tới các cơ phận khác hay chưa. Ngoài ra, nó cũng được dùng rất nhiều để hướng dẫn làm sinh thiết các bướu tìm thấy ở các cơ phận trong cơ thể như phổi, gan, hạch, v.v..

·        PET Scan (Positron Emission Tomography): Sử dụng năng lượng phát ra từ hạt nhân positron hay hạt nhân dương tính để chụp hình: Một lượng đường có gắn chất phóng xạ rất nhỏ sẽ được chích vào cơ thể. Những tế bào cơ thể sẽ dùng chất đường này để hoạt động. Vì tế bào ung thư mọc nhanh hơn tế bào bình thường, chúng sẽ sử dụng nhiều chất đường này hơn, và sẽ hấp thụ nhiều phóng xạ hơn. Do đó khi hình chụp ra, những chỗ có ung thư sẽ nổi bật ra.  Cách này chỉ cho thấy một cách tổng quát vị trí của ung thư, chứ không cho thấy được cấu trúc hay vị trí rõ ràng của ung thư. Do đó, rất nhiều trường hợp, ta phải chụp cả PET và CT scan rồi lồng hình vào nhau để kết quả được chính xác hơn. Phương pháp này thường được dùng để truy tầm chỗ ung thư đã lây lan hơn là để chẩn bệnh.

top

V. Các Thời Kỳ (Giai Đoạn) của Ung Thư Vú:

·        Thời kỳ 0:  khi ung thư còn bị giới hạn trong ống dẫn sữa (ductal in situ) mà chưa ăn vào nhũng mô vú hay mô nâng bỡ bên ngoài ống dẫn sữa.  Cơ hội có thể chữa lành của thời kỳ này từ 90% đến 100% bằng giải phẫu toàn phần vú, hay một phần vú cộng với xạ trị (radiation).  Có nhiều trường hợp, bác sĩ còn cho bệnh nhân dùng thêm thuốc loại kích thích tố như tamoxifen.

·        Thời kỳ I:  khi ung thư còn nhỏ hơn 2 cm và chưa lan vào hạch nách.  Cơ hội sống còn sau mười năm là khoảng 80% đến 90%. Cách chữa cũng tương tự như thời kỳ 0, nhưng một số bệnh nhân có thể được khuyên nên sử dụng thêm hóa chất trị liệu (chemotherapy).   Ngoài ra, các phụ nữ đã tắt kinh còn có thể được dùng một loại thuốc gọi là Aromatase Inhibitor như Arimidex, Letrozole, hay Aromasin thay vì tamoxifen.   Đây cũng là thuốc loại kích thích tố.

·        Thời kỳ II:  khi ung thư từ 2 cm đến 5 cm và chưa lan vào hạch nách, hay nhỏ hơn hơn 5 cm và đã lan vào một số hạch nách.  Cơ hội sống còn sau mười năm tùy thuộc vào kích thước của ung thư và bao nhiêu hạch bị lây lan.  Cách chữa cũng tương tự như thời kỳ I,  nhưng phần lớn bệnh nhân được khuyên nên sử dụng thêm hóa chất trị liệu (chemotherapy), nhất là những ung thư lớn hay đã vào hạch nách.

·        Thời kỳ III:  khi ung thư lớn hơn 5cm hay đã lan vào nhiều  hạch nách nhưng chưa lây lan đi xa.  Cơ hội sống còn sau mười năm tùy thuộc vào kích thước của ung thư và bao nhiêu hạch bị lây lan.   Đây là thời kỳ khá trễ và có cơ hội mắc bệnh ung thư vú trở lại hay lây lan qua các bộ phận khác rất cao.  Cách chữa thường bắt đầu bằng hóa chất trị liệu (chemotherapy), sau đó là giải phẫu và xạ trị.

·        Thời kỳ IV:  ung thư đã lây lan ra tới các bộ phận như gan, phổi, xương, não, v.v.   Ở thời kỳ này, trừ những trường hợp rất đặc biệt,  bệnh nhân có nguy cơ mất mạng vì bệnh trong vòng năm năm rất cao.   Cách chữa thường là với hóa chất hay thuốc loại kích thích tố.

Như ta thấy trên đây, ung thư vú được khám phá càng sớm bao nhiêu thì cơ hội sống còn càng cao bấy nhiêu.  Do đó, tất cả phụ nữ nên quan tâm đến vấn đề truy tầm ung thư vú và theo lời khuyên truy tầm ung thư vú như trên.

top

VI. Trị Bệnh Ung Thư Vú

Hiện nay y khoa đã có rất nhiều tiến bộ trong việc xác định sớm và trị liệu ung thư vú thành công. Khi tìm thấy khối u trong vú, người phụ nữ có cơ hội lựa chọn về cách trị bệnh cho thích hợp với tình trạng của mình. Các bác sĩ đang tiếp tục học hỏi về những sự thuận lợi và những điều bất lợi của những cách trị liệu khác nhau. Vì bệnh ung thư vú có thể bày tỏ một cách khác nhau cho từng người bệnh, cho nên cách trị liệu hay nhất cho mỗi người cũng khác nhau. Cùng một cách trị liệu không thể dùng cho tất cả bệnh nhân.

Để hiểu nhiều hơn về cách trị liệu thích hợp hãy liên lạc với Cancer Information Service qua số điện thoại 1-800-422-6237 hay truy cập vào trang web http://www.cancernet.nci.nih.gov/.  Hội Ung Thư Việt Mỹ cũng có thể giúp quý vị tìm hiểu thêm về các cách chữa trị hoặc cung cấp các tài liệu liên quan về bệnh này bằng tiếng Việt. Xin liên lạc với Hội Ung Thư Việt Mỹ qua số (714) 751-8505 hoặc ghé thăm trang web của Hội qua địa chỉ http://www.ungthu.org/.

Dưới đây là sơ lược về những cách chữa trị chính cho bệnh ung thư vú.

A. CÁC LOẠI GIẢI PHẪU:

·        Lumpectomy: cách giải phẫu này chỉ lấy cục u ở vú ra với một vòng mô bình thường chung quanh. Thường thì sau đó bệnh nhân cần được trị radiation therapy (xạ trị) để giảm bớt cơ nguy bệnh trở lại, tùy trường hợp, bệnh nhân cũng có thể cùng lúc cần cắt bỏ rồi thử nghiệm hạch (bạch huyết) dưới nách để xem xét coi ung thư có lan vào hạch hay chưa.

·        Partial Mastectomy hay Segmental Mastectomy: cách giải phẫu này chỉ cắt bỏ khối u cùng với màng mô bình thường chung quanh nó, có khi kể cả một ít da, mô lót của bắp thịt ngực ngay dưới khối u.  Cách này cũng tương tự như lumpectomy nhưng có thể phải lấy ra nhiều mô hơn. Nhiều bác sĩ giải phẫu cũng lấy ra một phần hoặc là hết cả hạch dưới nách để kiểm lại vì nguy cơ ung thư có thể lan vào những hạch này.

·        Total Mastectomy hay Simple Mastectomy: Loại giải phẫu này cắt bỏ toàn thể vú. Thường thì các hạch ở dưới nách không bị cắt bỏ. Tuy nhiên, nếu có một số nhỏ ở gần sát vú, những hạch này có thể bị lấy ra khi cắt bỏ vú. Thường thì loại giải phẫu này được dùng trị ung thư vú tại vị, tức là ung thư vú chưa có tính xâm lấn.

·        Modified Radical Mastectomy: Cách giải phẫu này cắt bỏ toàn thể vú, các hạch dưới nách và phần mô lót quanh bắp thịt ngực.

·        Lymph Node Dissection (giải phẫu hạch bạch huyết): là cắt bỏ các hạch bạch huyết ở dưới nách: Số hạch bạch huyết lấy ra ở mỗi phụ nữ khác nhau. Những hạch bạch huyết ở dưới nách thường bị phủ bởi lớp mỡ khiến bác sĩ giải phẫu khó thấy có bao nhiêu hạch bạch huyết cắt bỏ khi giải phẫu. Càng lấy nhiều hạch dưới nách ra, nguy cơ bị sưng cánh tay càng cao. Bởi vì sự lưu thông của các mạch bạch huyết đi từ bàn tay, cánh tay, qua nách vào đến mạch máu trong lồng ngực để được bài tiết qua thận, bị cắt đứt.

·        Sentinel Node Biopsy (cắt bỏ hạch giữ cửa):  Rất nhiều bác sĩ giải phẫu hiện nay dùng kỹ thuật này để tránh cho bệnh nhân tình trạng bị sưng tay như trên.  Trong phương pháp này, bác sĩ giải phẫu phải định xem hạch giữ cửa là hạch nào trước khi cắt bỏ.  Để thực hiện điều này, bác sĩ chích một loại phẩm xanh, hay chất phóng xa, hay cả hai, vào khu vực chung quanh cục bướu ung thư.  Hạch bạch huyết nào nhuộm phẩm xanh hay tích tụ chất phóng xạ nhiều nhất  sẽ được cắt ra xem xét. Nếu không có tế bào ung thư trong hạch thì các hạch còn lại không cần phải cắt bỏ, nhưng nếu có, thì các hạch còn lại phải được lấy ra để thử nghiệm.  Cách này chỉ lấy ra rất ít hạch, do đó cánh tay đỡ bị sưng phù sau khi mổ.

·        Reconstruction Surgery (giải phẫu tạo hình): Tạo lại hình dáng của vú sau khi vú thật bị cắt bỏ hoàn toàn hay một phần và gây ra sự dị dạng của vú:  Có nhiều cách tạo hình khác nhau: dùng chất độn silicone, hay chính mô tế bào của người bệnh để tái tạo vú. Quý vị nào muốn tái tạo ngực sau khi giải phẫu, xin nói chuyện với bác sĩ mổ trước khi mổ bỏ vú. Để việc tái tạo vú được hoàn hảo, các bác sĩ tạo hình cần gặp bệnh nhân và thảo luận với bác sĩ mổ vú trước khi bệnh nhân mổ bỏ vú.

B. QUANG TUYẾN TRỊ LIỆU hay còn được gọi là XẠ TRỊ  (RADIATION THERAPY)

Đây là phương pháp trị liệu bằng năng lực quang tuyến X cao độ để giết chết tế bào ung thư.  Cách trị liệu này được dùng để ngăn chận ung thư tăng trưởng trước khi giải phẫu, hay tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại sau cuộc giải phẫu.  Quang tuyến trị liệu thường được sử dụng sau lumpectomy hay partial mastectomy, nhưng đôi khi cũng được dùng sau khi làm total masectomy hay modified radical mastectomy nếu ung thư quá lớn hay có nhiều hạch ở nách bị ung thư.  Quang tuyến trị liệu thường được chia ra làm nhiều ngày. Mỗi ngày, một phần nhỏ của tổng số quang tuyến sẽ được chiếu vào cơ phận bị bệnh.  Đối với ung thư vú, bệnh nhân thường được chiếu quang tuyến khoảng từ sáu đến bảy tuần.

Các bệnh nhân thường chịu đựng được một cách dễ dàng các phản ứng phụ của quang tuyến trị bệnh ung thư vú.  Các phản ứng thông thường nhất là bị phỏng nhẹ, lột da, đau ran. Đôi khi, nếu bị phản ứng phụ quá nặng, bệnh nhân cần phải nghỉ một thời gian ngắn trước khi điều trị lại.

C. HÓA CHẤT TRỊ LIỆU (CHEMOTHERAPY)

Hóa chất là những dược liệu đặc biệt được dùng để tiêu diệt những tế bào ung thư.  Hóa chất trị liệu (chemotherapy) thường được dùng thêm với việc giải phẫu, quang tuyến trị liệu (radiation therapy) hay dùng để chống ung thư khi nó tái phát hay lây lan. Hóa chất trị liệu được dùng sau hay trước khi mổ sạch ung thư thuộc thời kỳ I, II, hay III, đã được chứng minh là có thể gia tăng cơ hội chữa lành bệnh cho nhiều bệnh nhân.

Khi hóa chất trị liệu được dùng sau khi mổ để giảm nguy cơ bị bệnh trở lại, nó được gọi là “adjuvant chemotherapy” hay “trị liệu bổ sung bằng hóa chất”. Bệnh nhân thường được bắt đầu nhận hóa chất trong vòng sáu tuần sau khi mổ. Thuốc được cho vào mỗi hai hay ba tuần, và thường hoàn tất trong vòng ba đến sáu tháng.   Nhiều trường hợp hóa chất được cho trước khi giải phẫu để việc giải phẫu được dễ dàng hơn nếu bướu ung thư quá lớn, hay nếu cho thuốc trước giúp bệnh nhân giữ được ngực bằng cách mổ một phần thay vì toàn phần.

Hóa chất trị liệu có nhiều phản ứng phụ.  Tuy nhiên, những phản ứng này thường được làm giảm bởi nhiều cách khác nhau với phương pháp mới chống lại phản ứng phụ của hóa chất rất có hiệu quả; và phần lớn bệnh nhân có thể chịu đựng được dễ dàng.
 
Có nhiều loại hóa chất được dùng trị ung thư vú, thông thường nhất là các chất adriamycin, epirubucin, cytoxan, 5-FU, taxol, taxotere, xeloda, navelbine, v. v... Các chất này có thể dùng riêng rẽ hay tổng hợp. Mỗi loại hóa chất và mỗi tổng hợp hóa chất được dùng trong những trường hợp khác nhau và mang lại những phản ứng phụ khác nhau. Có nhiều thuốc rất tốt được dùng để làm giảm bớt hay loại bỏ các phản ứng phụ. Thí dụ như Zofran, Kytril, Anzamet, Compazine, Tigan, Reglan, Decadron để giảm ói mửa; Neupogen, Neulasta, Leukine để giúp gia tăng bạch huyết cầu và tránh nhiễm trùng; Procrit hay Aranesp để gia tăng hồng huyết cầu và giảm mỏi mệt.

Để tìm hiểu thêm về Hóa chất trị liệu và những phương pháp làm giảm phản ứng phụ của Hóa chất trị liệu, xin quý vị đọc tập “Hóa Chất Trị Liệu: Tài Liệu Hướng Dẫn Cho Bệnh Nhân Và Gia Đình” do Hội Ung Thư Việt Mỹ phát hành.   Xin liên lạc với Hội qua số (714) 751-5805 hay ghé thăm trang web về hóa chất trị liệu của Hội ở địa chỉ http://ungthu.org/vacf/all/hoachattrilieu.asp

D. TRỊ LIỆU BẰNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHẾ NGỰ MỤC TIÊU (TARGETED THERAPY)

Những yếu tố di truyền hay kết quả của những yếu tố di truyền trong cơ thể như những yếu tố gây ra bệnh ung thư có thể trở thành mục tiêu trị liệu.  Chẳng hạn như yếu tố di truyền Her 2 neu (hay erbB2) là yếu tố tăng trưởng các tế bào biểu bì, trong đó có các tế bào ung thư vú.  Ngoài yếu tố Her 2 neu, còn có yếu tố Her 1 hay erbB cũng có ảnh hưởng trên sự tăng trưởng biểu bì.  Những tế bào ung thư vú có sự phát triển bất thường của Her 2 neu là những loại ung thư vú nguy hiểm nhất.  Thuốc Herceptin (trastuzumab) là một loại thuốc mới đặc biệt được dùng cho những bệnh nhân bị loại ung thư vú có sự phát triển bất  thường của yếu tố Her 2 neu ( khoảng 25% tất cả bệnh nhân ung thư vú) .  Thuốc Herceptin là một chất kháng thể chống lại những sản phẩm của Her 2 neu, và tiêu diệt những tế bào ung thư có yếu tố Her 2 neu.   Khi sử dụng thuốc này, cơ hội sống còn của bệnh nhân sẽ tăng lên, nhất là khi được sử dụng vào trường hợp ung thư đã vào hạch nách hay đã lây lan đến các cơ phận khác.  Herceptin là thuốc được truyền vào tĩnh mạch.  Một trong những phản ứng phụ là có thể làm bắp thịt tim yếu đi;  do đó, chức năng tim của bệnh nhân phải được theo dõi kỹ càng trong khi trị liệu với thuốc này.

Thuốc Tykerb (lapatinib) vừa mới được nghiên cứu và cho thấy có kết quả tốt cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư vú lọai có yếu tố Her 2 neu nhưng khi dùng thuốc Herceptin lại không có hiệu quả hay đã mất hiệu quả sau một thời gian dùng thuốc.  Thuốc Tykerb chống lại cả hai yếu tố Her 2 và Her 1.   Đây là loại thuốc uống, tiện lợi hơn cho bệnh nhân, và có ít phản ứng phụ về tim hơn.  Phản ứng phụ thường gặp là tiêu chảy và bị các thay đổi về da.

E. TRỊ LIỆU BẰNG KÍCH THÍCH TỐ (HORMONAL THERAPY)

Trị ung thư bằng cách ngăn chặn hay cho thêm kích thích tố vào cơ thể.  Nói chung, rất nhiều ung thư vú tăng trưởng dưới sự kích thích của các kích thích tố nữ. Nếu ta chế ngự được sự kích thích này, các tế bào ung thư có thể ngưng phát triển hay bị tiêu hủy.  Vì ung thư vú là một bệnh chịu ảnh hưởng của kích thích tố nữ, điều khiển kích thích tố nữ trong cơ thể là một cách rất hữu hiệu để chữa ung thư vú loại nhạy cảm với kích thích tố nữ. Tôi xin nhấn mạnh là cách chữa ung thư vú bằng cách điều khiển kích thích tố nữ chỉ có hiệu quả cho các ung thư vú nào nhạy cảm với kích thích tố nữ mà thôi.

Làm Sao Biết Ung Thư Vú Thuộc Loại Nhạy Cảm Với Kích Thích Tố Nữ Hay Không?

Có những cách thử nghiệm tế bào đặc biệt để quyết định việc này. Khi các bác sĩ làm sinh thiết hay cắt bướu ung thư vú ra khỏi cơ thể, những mẫu tế bào hay mô bướu ung thư vú này sẽ được gửi tới phòng thử nghiệm bệnh lý học (hay còn gọi là giải phẫu bệnh học, hay mô bệnh học). Ở đây, các bác sĩ chuyên môn về khoa bệnh lý học sẽ khảo sát tế bào và mô dưới kính hiển vi để định bệnh xem có phải thực là ung thư hay là bướu lành. Nếu là ung thư thì thuộc loại gì. Ngoài ra, với ung thư vú, họ còn cho thử nghiệm đặc biệt để xem các tế bào ung thư vú này có bộ thụ cảm (receptor) của estrogen hay progesterone hay không.  Dưới đây tôi xin trình bày một cách giản dị cơ cấu họat động của bộ thụ cảm.

Mỗi tế bào trong những cơ phận có chứa rất nhiều những cấu trúc đạm chất (protein structures ) nhỏ li ti khác nhau được gọi là những “bộ thụ cảm” (receptors). Những bộ thụ cảm hoạt động như những “ổ khóa” của những tế bào và được vận hành bằng những “chìa khóa” là những kích thích tố. Khóa nào thì có chìa đó để phát động cái máy làm việc và vận chuyển nhà máy tế bào qua những tín hiệu phức tạp khác nhau. Chất estrogen chỉ tác động vào  bộ thụ cảm estrogen, và progesterone có tác dụng vào bộ thụ cảm của progesterone. Có khi những bộ thụ cảm này là cửa ngõ để các kích thích tố vào trong tế bào và ảnh hưởng trực tiếp tới những bộ máy của các tế bào này. Khi các kích thích tố vào được các tế bào nhờ đi qua các bộ thụ cảm, bộ máy của tế bào sẽ bắt đầu làm việc. Các yếu tố di truyền (gene) thích hợp sẽ được kích thích để làm ra những hợp chất cần thiết cho sự tăng trưởng và sinh sản của các tế bào. Thí dụ như khi phụ nữ còn trong thời kỳ có thể sinh sản được, hàng tháng, estrogen và progesterone sẽ ảnh hưởng vào các tế bào vú cũng như tử cung qua các bộ thụ cảm. Những tế bào của các cơ phận này sẽ trở nên lớn hơn và nhiều hơn để chuẩn bị cho việc thụ thai và cho con bú.   75% các  ung thư vú cũng có thể vẫn giữ được khả năng chế tạo ra bộ thụ cảm estrogen và progesterone.  Những ung thư vú này sẽ chịu ảnh hưởng tăng trưởng của estrogen và progesterone.  Có những loại thuốc có thể làm ngăn chặn những ảnh hưởng tăng trưởng này và được sử dụng để chữa ung thư vú.   Bộ thu cảm của estrogen gọi là estrogen receptor (ER) và của progesterone gọi là progesterone receptor (PR).

Các bác sĩ sẽ xem xét độ dương tính của  ER hay PR trong ung thư vú của bệnh nhân.  Nếu có dương tính thì sẽ xem xét xem cao hay thấp như thế nào. Dương tính cho ER hay PR càng cao bao nhiêu, cơ hội bệnh chịu thuốc kích thích tố càng cao bấy nhiêu. Nếu thử nghiệm cho thấy ung thư hoàn toàn âm tính cho ER và PR, tức là không có bộ thụ cảm cho estrogen và progesterone, phương pháp điều khiển kích thích tố sẽ không có hiệu quả gì hết cho người bệnh này.

Vì thế, có nhiều phụ nữ có ung thư vú được bác sĩ cho uống thuốc điều khiển kích thích tố nữ, mà nhiều phụ nữ khác lại không được cho uống. Nếu quý vị mắc bệnh ung thư  vú, nên tham khảo kỹ càng bác sĩ điều  trị xem mình có thể được điều trị bằng cách điều khiển kích thích tố nữ hay không, vì đây là một cách chữa rất có hiệu quả cho những bệnh ung thư vú có ER hay PR.

Tùy theo trường hợp, các thứ thuốc hiện được dùng để chế ngự ảnh hưởng của kích thích tố trên ung thư vú gồm có Novaldex (tamoxifen) , Fareston (toremifene), Arimidex (anastrozole), Femara (letrozole), Aromasin (exemestane), Faslodex (fulvestrant), Megace (megestrol), Zoladex (goserelin) hay Lupron (leuprolide). Những thuốc này có cách tác dụng khác nhau và được dùng cho những trường hợp khác nhau.  Các bác sĩ chuyên môn về ung thư sẽ phải quyết định xem bệnh nhân có cần thuốc hay không, và nếu cần, thuốc nào thích hợp nhất cho bệnh nhân đó.

KẾT LUẬN:

Ung thư vú có thể chữa lành được nếu truy tầm sớm và chữa trị đúng cách.  Xin quý phụ nữ nhắc nhở các bác sĩ gia đình thực hiện những chương trình truy tầm ung thư vú cho quý vị

 

 

 

Phát hiện sớm ung thư vú

 

BS. Trần Chánh Thuận

 

I. Mở đầu

Ung thư vú là một loại ung thư rất phổ biến ở phụ nữ Việt Nam, đứng thứ hai trong các ung thư phụ khoa sau ung thư cổ tử cung tại miền Nam (theo thống kê của Trung tâm Ung Bướu TP. HCM) và đứng hàng đầu trong các ung thư phụ khoa ở các tỉnh phía Bắc.

- Tại Pháp, cứ 100 phụ nữ tử vong do ung thư thì có đến 25 ca tử vong do ung thư vú, chiếm tỷ lệ đến 77,4 người trên 100.000 dân. Mỗi năm có đến 20.000 ca ung thư vú phát sinh và có đến 10.000 phụ nữ tử vong hàng năm do ung thư vú.

- Về tuổi, theo thống kê của GS. Alain Bremond có các tỷ lệ ung thư vú theo bảng sau:

 

Tuổi

Tỷ lệ (/100.000/năm)

20 – 29

6,8

30 – 39

47,6

40 – 49

201,5

50 – 59

276,4

60 – 69

306,9

≥ 70

215,5

 

- Xuất độ ung thư vú theo tuổi với độ tuổi trung bình là 60.

Trên thế giới ung thư vú là một trong những bệnh gây tử vong thứ nhì ở nữ giới chỉ sau ung thư phổi.

- Vì tầm quan trọng của loại ung thư này, tại các nước đã phát triển, vấn đề tầm soát ung thư vú đã được thực hiện một cách thường xuyên với nhiều chương trình mang tính cách quốc gia. Tại nước ta, các Trung tâm sản Phụ khoa và các trung tâm khác đang từng bước tiến hành chương trình này và đã trang bị đủ các phương tiện cần thiết để chẩn đoán và phát hiện sớm ung thư vú, nâng cao nhận thức và sự quan tâm của phụ nữ đối với ung thư vú.

II. Vấn đề chẩn đoán và điều trị ung thư vú

1. Chẩn đoán:

- Đối với ung thư vú, sau khi đã có chẩn đoán bệnh, ta có bốn giai đoạn bệnh được xếp từ giai đoạn 1 – giai đoạn 4, với tình trạng bệnh và tỷ lệ tử vong tăng dần theo mỗi giai đoạn.

- Tại Việt Nam ở giai đoạn 1 và 2 tỷ lệ được phát hiện là 51%, giai đoạn 3 và 4 tỷ lệ được phát hiện lên đến 49%.

2. Điều trị:

Có nhiều phương pháp điều trị ung thư vú, nhưng đối với những giai đoạn trễ mặt dù đã có nhiều tiến bộ (phẫu trị, hóa trị, xạ trị, nội tiết) tỷ lệ tử vong vẫn còn rất cao ở những giai đoạn này.

- Phẫu trị: bao gồm phẫu thuật bảo tồn như cắt khối u, nạo hạch nách sau đó xạ trị đối với các khối u < 3cm, hai ổ, ung thư tại chỗ lan tỏa. Sau đó tái tạo lại tuyến vú tức thì hoặc ở phẫu thuật lần sau.

- Xạ trị: có tác dụng điều trị bổ túc, xạ trị có hệ thống sau phẫu thuật tận gốc để làm giảm nguy cơ tái phát.

- Hóa trị: là dùng thuốc káhng ung thư có tác dụng điều trị toàn thân được sử dụng khi có các yếu tố nguy cơ tái phát, là phương pháp điều trị hỗ trợ rất cần thiết nhưng có nhiều átc dụng phụ và rất tốn kém.

- Tỷ lệ tái phát ở giai đoạn 1: 6%; giai đoạn 2: 31% và giai đoạn 3: lên đến 58%.

- Tỷ lệ sống thêm (%) của bệnh nhân ung thư vú ở từng giai đoạn theo GS. Armando E. Griuliano

 

Giai đoạn TNN

Sống thêm 5 năm

Sống thêm 10 năm

0

95

90

I

85

70

IIA

70

50

IIB

60

40

IIIA

55

30

IIIB

30

20

IV

5 – 10

2

Chung các loại

65

30

 

Do đó chúng ta thấy, muốn điều trị hiệu quả ung thư vú, điều quan trọng nhất là phải phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, ngoài việc mang lại hiệu quả điều trị cho người bệnh, còn giúp giảm thiểu chi phí điều trị rất tốn kém cho gnười bệnh và cho xã hội. Điều này chúng ta có thể thực hiện được với các phương tiện được trang bị hiện nay cùng với sự tham gia tích cực của cộng đồng, nhất là nhận thức của người dân đối với căn bệnh này.

III. Làm thế nào để phát hiện sớm ung thư vú

- Ung thư vú là loại ung thư khi khởi phát và ngay cả khi đang ở giai đoạn đầu là loại ung thư không có triệu chứng lâm sàng cũng như không gây cho bệnh nhân một triệu chứng báo động gì cả, nhưng ngược lại nó là một loại ung thư có thể phát hiện được rất sớm.

- Người bệnh muốn được phát hiện sớm cần phải thực hiện các bước sau:

1. Đối với những phụ nữ khỏe mạnh, cần khám kiểm tra định kỳ vú và phụ khoa mỗi năm, từ 35 tuổi trở lên  dù không có bất kỳ triệu chứng lâm sàng nào. Những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ cao thì 3 – 6 tháng khám một lần theo chỉ định của thầy thuốc.

2. Chụp nhũ ảnh định kỳ hàng năm hoặc theo chỉ định của thầy thuốc. Cho đến ngày nay, nhũ ảnh là phương tiện tốt nhất để giúp chúng ta phát hiện sớm ung thư vú và nó có thể phát hiện được ung thư vú ở giai đoạn không có triệu chứng lâm sàng hàng năm trước khi người bác sĩ và bệnh nhân cảm nhận được tổn thương.

Nhũ ảnh được đề nghị chụp tầm soát cho các phụ nữ > 35 tuổi với nhịp độ như sau:

·      Chụp lần đầu tiên trong đời trong khoảng 35 – 39 tuổi.

·      Từ 40 – 49 tuổi, thực hiện một lần mỗi một đến hai năm tùy theo các yếu tố nguy cơ của người phụ nữ (sẽ trình bày phần sau).

·      Mỗi năm một lần cho các phụ nữ từ 50 tuổi trở lên.

3. Tự khám vú: được đề nghị thực hiện với mọi phụ nữ trên 20 tuổi, phụ nữ nên khám ngực mình từ ngày thứ 8 của chu kỳ kinh hay sau khi sạch kinh với nhịp độ mỗi tháng một lần. Khi tự khám đều đặn chị em sẽ biết tình trạng mỗi bên vú nên rất dễ phân biệt được đâu là bình thường đâu là bất thường, với các bước như sau:

·      Đứng trước gương, ở trần, hai cánh tay buông xuôi hai bên hông, quan sát hai vú rồi đổi tư thế: hai tay để phía sau mông, nghiên nhẹ người tới trước, quan sát cả hai vú để xem có gì thay đổi về kích thước của hai vú (một bên lớn hơn thường lệ, hoặc teo nhỏ lại), quan sát da vú (da cam, da bị lõm xuống ở một vùng nào đó), xem núm vú có bị kéo lệch hay tụt vào không và ấn nhẹ núm vú xem có máu hay chất dịch tiết ra ở đầu núm vú không?

·      Nằm ngửa, kê gối hoặc khăn xếp lại dưới vai bên phải, tay phải để sau ót, dùng các ngón tay trái (bàn tay phải xòa thẳng), nhẹ nhàng ép sát tuyến vú vào thành sườn, bắt đầu phần trên rồi đến phần dưới của vú, cuối cùng là núm vú, nhằm tìm một cục u (khối u, khối bướu). Khi khám vú trái thì đổi ngược tư thế lại. Cuối cùng là nên sờ vùng nách hai bên để xem có u hoặc hạch nách không. Nếu tự khám đều đặn và thường xuyên sẽ phát hiện được những khối u nhỏ hơn nhiều so với các phụ nữ không thực hiện việc tự khám vú mình.

Nếu thực hiện tốt các bước trên thì sẽ phát hiện được ung thư vú ở các giai đoạn rất sớm hoặc với các khối u với kích thước < 1cm và không có di căn hạch. Lợi ích của phương thức này là một phương thức phát hiện sớm ung thư ít tốn kém, không sang chấn và chi phí chấp nhận được.

Tại các nước đang phát triển, các chương trình tầm soát được tiến hành bằng cách khám hàng loạt cho các phụ nữ khỏe mạnh > 35 tuổi, đã làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú lên đến 30%.

IV. Các yếu tố nguy cơ của ung thư vú

Việc xác định một phụ nữ có các yếu tố nguy cơ cao của ung thư vú là việc rất cần thiết cho các bác sĩ ung thư và các bác sĩ phụ khoa, đối với phụ nữ trong qui trình khám phụ khoa và tầm soát ung thư vú để chỉ định chọ nhịp độ theo dõi và điều trị. Các yếu tố nguy cơ cao bao gồm:

- Phụ nữ trên 50 tuổi.

- Đã bị ung thư vú một bên.

- Tiền căn gia đình vừa bên cha vừa bên mẹ có người bị ung thư vú.

- Tiền căn ung thư vú ở thế hệ 1: mẹ, chị, con gái.

- Bản thân có ung thư buồng trứng, ung thư nội mạc tử cung.

- Tiểu đường sau mãn kinh.

- Đời sống kinh tế cao.

- Sanh con đầu lòng sau 35 tuổi.

- Độc thân hoặc sanh ít.

- Tiền căn có xạ trị.

- Có kinh sớm trước 12 tuổi.

- Mãn kinh sau 55 tuổi.

- Mập phì.

V. Phòng ngừa ung thư vú

Vú là cơ quan dễ bị ung thư nhất của phụ nữ nhưng hiện nay vẫn chưa có phương phòng ngừa nào có hiệu quả. Khuynh hướng hiện nay, đa số các thầy thuốc đều khuyên nên:

- Cố gắng cải thiện các yếu tố nguy cơ cao nếu được, nếu có các yếu tố nguy cơ cao thì nên tự khám và đi kiểm tra thường xuyên vú và phụ khoa.

- Tránh stress (chấn kích), dinh dưỡng đúng và cân bằng, bổ sung thêm khẩu phần nhiều rau quả và trái cây chứa nhiều β caroten.

- Chụp nhũ ảnh định kỳ, có thể làm thêm các xét nghiệm bổ sung cheo chỉ định của thầy thuốc.

VI. Kết luận

Vú là cơ quan dễ bị ung thư nhất ở mọi phụ nữ, dù có các tiến bộ rất đáng kể về điều trị trong thập niên vừa qua với chi phí điều trị rất tốn kém cho bệnh nhân và cho xã hội, nhưng tỷ lệ tử vong vẫn còn rất cao khi được phát hiện trễ, ngược lại điều trị đạt hiệu quả cao và ít tốn kém nếu bệnh được phát hiện sớm, điều này đặc biệt phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của nước ta hiện nay.

- Tại nước ta, chúng ta có đủ điều kiện và phương tiện để phát hiện sớm ung thư vú, nếu thực hiện tốt chương trình tầm soát và khám phụ khoa định kỳ cũng như sự hiểu biết và quan tâm của mỗi người dân đối với bệnh này sẽ làm giảm thiểu được tỷ lệ tử vong cũng như chi phí cho bệnh nhân và xã hội.

 

 

 

 

Thời gian lý tưởng để tiến hành siêu âm 3D/4D

alt  alt  alt  alt

 

Thời Gian Tốt Nhất Tiến Hành Siêu Âm 3D/4D

 

Thời điểm lí tưởng nhất để tiến hành siêu âm 3D/4D thấy hình bé yêu của bạn  là trong tuần đầu 18 và tuần cuối 34 của thai nhi.

 

November 2010

S

M

T

W

T

F

S

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

 

 

 

 

December 2010

S

M

T

W

T

F

S

 

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

 

January 2011

S

M

T

W

T

F

S

 

 

 

 

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

 

 

 

 

 

February 2011

S

M

T

W

T

F

S

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

 

 

 

 

 

March 2011

S

M

T

W

T

F

S

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

 

 

April 2011

S

M

T

W

T

F

S

 

 

 

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

May 2011

S

M

T

W

T

F

S

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

 

 

 

 

June 2011

S

M

T

W

T

F

S

 

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

 

 

July 2011

S

M

T

W

T

F

S

 

 

 

 

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

31

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngày hợp lí

 

Thời gian tốt nhất

 

Thời gian tốt

 

Có thể xác định được giới tính


 

Tham khảo tại webside:

http://www.baby-insight.com/cal/select_date.php

 

 

Cách in báo cáo kiểm tra EEG

CÁCH IN BÁO CÁO KIỂM TRA EEG

Khi thực hiện một kiểm tra EEG (điện não đồ), đó là quá trình ghi lại của dạng sóng. Vì vậy ngay lập tức không thể có kết quả, chỉ khi bạn hoàn thành quá trình kiểm tra và thoát, bạn có thể thấy được trường hợp của bạn được lưu ở biểu đồ. Không có danh sách nào tự động hiện trên giao diện chính, sau đó bạn có thể chọn nó bằng cách nhấn nút “play” nằm ở phía trên của giao diện chính, bạn có thể thấy được kết quả kiểm tra mà bạn vừa thực hiện xong, giao diện xem lại được trình bày bên dưới như sau:

alt 

Thật dễ dàng để thấy nơi bạn có thể in, có 2 nút ở phía bên dưới của giao diện chính, “Print1”,  “Print2” , print1 có nghĩa là in ngay dạng sóng hiện tại ở giao diện, print2 có nghĩa là in dạng sóng được chọn.

Dưới đây là kiểu in khác mà bạn có thể thấy ở giao diện chính

alt 

Và đây là hình ảnh ở phía thấp hơn bên phải của giao diện, nó có thể chọn chế độ in bản mẫu, và đương nhiên tất cả các chế độ đều có thể thiết lập được bằng tay, bạn có thể chọn bản mẫu trước, sau đó ấn “import templet”, và sau đó bạn có thể ấn “Print Report”.

 

 

Những yêu cầu cần thiết của EEG

Những yêu cầu cần thiết của EEG

Một kiểm tra EEG làm những gì?

Bộ não của chúng ta liên tục sản sinh ra các tín hiệu điện rất nhỏ. Trong suốt quá trình kiểm tra EEG, các điện cực (các đĩa kim loại phẳng) được gắn trên đầu của bạn. Các điện cực này thu nhận các tín hiệu điện từ não và gửi chúng tới một máy EEG.

Các điện cực này chỉ thu nhận duy nhất các hoạt động từ não, chúng không phát ra các tín hiệu điện. Điều này có nghĩa là các điện cực không có tác dụng đối với não và chúng không gây ra bất kì đau đớn nào.

Máy EEG ghi lại các tín hiệu điện từ não đưa tới một máy tính. Tín hiệu này giống như những đường lượn sóng. Những đường lượn sóng này đại diện cho các mẫu sóng não của bạn. Kiểm tra EEG chỉ có thể chỉ ra duy nhất mẫu sóng não của bạn tại thời điểm thực hiện kiểm tra. Tại những lần khác, mẫu sóng não có thể khác.

Hầu hết mọi người đều có mẫu sóng  não giống nhau. Đôi khi, kiểm tra EEG chỉ ra rằng một người có mẫu sóng não không bình thường, bằng việc gây ra hoạt động điện không bình thường trong não. Và đôi khi có thể chỉ ra được người đó mắc bệnh động kinh.

Đọc thêm...
 

Xảo ảnh trong siêu âm

XẢO ẢNH


Hiểu biết được những tính chất vật lý của sóng âm có thể gây ra những hình ảnh gần giống với hình ảnh bệnh lý là điều kiện bắt buộc cần phải có để có thể phân tích đúng một hình ảnh siêu âm. Trong đó, xảo ảnh quan trọng nhất là bóng lưng. Bóng âm (45) xuất hiện ở vùng bị giảm khả năng tạo ra sóng phản âm [hypoechoic (giảm phản âm) hoặc anechoic (không phản âm) = màu đen] và được tìm thấy ở phía sau những cấu trúc có khả năng phản âm mạnh, chẳng hạn như xương có canci. Do đó, tầm nhìn khi quan sát những cấu trúc mô mềm ở phần bụng trên thường bị cản trở bởi những xương sườn nằm phía trên và khi quan sát những cấu trúc ở phần dưới khung chậu sẽ bị cản trở bởi khớp mu.

Đọc thêm...
 
Trang 1 của 2

 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

Tư vấn

Tư vấn

Tel: 04.62935023

Kinh doanh

Hà Nội:  0973881835

Đà Nẵng:  0905777197

Hồ Chí Minh: 0937393633

Cần Thơ:  0933435041

Check mail

LIÊN KẾT WEBSITE

THÔNG TIN CẦN BIẾT

THÔNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay340
mod_vvisit_counterHôm qua558
mod_vvisit_counterTất cả686732
Số người đang online 12

Tiếng Việt (Vietnamese)English (United Kingdom)

QUẢNG CÁO ĐỐI TÁC